Chuyện công ty và chuyện nói xấu công ty

Mấy bữa nay trên News Feed của mềnh có thấy một số bạn post status toàn chê bai cty, than thở về cty bạn ý đang làm, đồng nghiệp bạn ấy làm chung đủ kiểu, một số còn có lời lẽ không hay về cty mình đã từng làm. Nói chung là Facebook các bạn thì các bạn muốn viết gì thì kệ, tự do ngôn luận mà. Nhưng mà vì đã mang tiếng “bạn” nên mình cũng có chút chia sẻ quan điểm cá nhân, bạn tiếp nhận hay không thì đó là chuyện khác.

Theo kinh nghiệm cá nhân, chăn nào cũng có rận, ko giống này thì cũng giống kia. Công ty nào cũng có những vấn đề nội bộ mà ai cũng phải chấp nhận (hoặc nếu bạn giỏi và đủ quyền lực mềm, bạn thay đổi nó), đừng bao giờ nghĩ là cty VN luôn đầy sự khó chịu, cty nước ngoài là tuyệt vời – mặc dù về chế độ cũng như lương bổng có thể tốt hơn nhưng không ai cho không ai cái gì cả.

Nhin Rat Ngu khi khoc

Read more Chuyện công ty và chuyện nói xấu công ty

Apple trở thành thương hiệu có giá trị thứ 2 thế giới

Who says

Bất chấp những chỉ trích Apple sa sút phong độ thời “hậu Steve Jobs”, Apple đã vươn lên thành thương hiệu có giá trị lớn thứ 2 thế giới, đứng sau Coca-Cola. Giá trị thương hiệu của Apple đã tăng 129% trong vòng 1 năm qua, tăng từ 33 tỷ USD trong năm 2011 thành giá trị lên tới 76 tỷ USD trong năm 2012, nhảy từ vị trí thứ 8 lên vị trí thứ 2, đẩy IBM, Google, Microsoft, GE, McDonald và Intel mỗi thương hiệu xuống 1 bậc về giá trị, và là công ty có bước nhảy lớn nhất trong vòng một năm qua (Theo báo cáo Định giá những thương hiệu toàn cầu của InterBrand).

Trong sự thay đổi năm nay, SamSung cũng là một trường hợp có định giá thương hiệu nhảy vọt từ thứ hạng 19 năm 2011 với giá trị thương hiệu là 23 tỷ USD năm nay cũng vọt lên đứng thứ 9 với mức định giá lên đến 33 tỷ USD. Điều này cho thấy sự lo sợ của Apple với bành trướng của SamSung là có lý do. Mặc dù đã qua thời của Steve Job, nhưng sự lựa chọn cảm tính tích cực của người dùng với thương hiệu Apple vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết, điều này dễ dàng thấy gần đây, khi mà ra mắt sản phẩm iPhone 5 giữa sự cạnh tranh với hàng loạt các sản phẩm xứng tầm đối thủ của Google và SamSung, nhưng công ty vẫn giữ vững thái độ bảo vệ các bằng sáng chế của Apple. Và điều làm cho cái thương hiệu Apple trở nên đắt giá là Apple đã tạo ra những thứ mà khách hàng của họ cảm thấy họ cần phải có để phù hợp với thời cuộc và địa vị xã hội của mình.

nguyenhoangminh.info / InterBrand

Top 10 Thương hiệu có giá trị cao nhất thế giới năm 2012

Top 10 Thương hiệu có giá trị cao nhất thế giới năm 2012

“Bí ẩn” về đời sống tờ tiền Việt Nam

Nhóm tác giả của Ngân hàng Nhà nước vừa công bố báo cáo về những “bí ẩn” liên quan đến đời sống của các tờ tiền Việt Nam.

Từ khi được in ra và đưa vào lưu thông tiêu dùng cho đến khi bị thu hồi, tiêu hủy, đồng tiền đã trải qua một “đời sống” ra sao có lẽ ít ai chú ý. Theo điều tra và tổng kết bước đầu của nhóm nghiên cứu thuộc Ngân hàng Nhà nước, vấn đề này cho thấy không ít bất ngờ và thú vị.

Tờ 500.000 đồng ít được lưu thông ở đâu?

Thông thường, ở những thành phố, đô thị lớn, nơi mặt bằng thu nhập cao hơn hẳn các vùng miền khác, việc cất trữ để dành tiền, trong đó có loại mệnh giá cao nhất, tờ 500.000 đồng chắc chắn sẽ nhiều hơn hẳn. Khác với tất cả các vùng khác, tần suất sử dụng và giao dịch loại tiền này lại rất thường xuyên. Số tiền có mệnh giá cao, trong đó có tờ 500.000 đồng có thời gian trong két sắt lại rất ngắn, do nhu cầu sử dụng đầu tư, quay vòng để sinh lời.

Tại những vùng nông thôn và miền núi kém phát triển hơn (trừ các khu kinh tế tập trung, trang trại…), cơ cấu loại tiền mệnh giá 500.000 đồng vốn đã ít hơn, người dân lại có thói quen để dành bằng loại tiền này. Điều đó góp phần hạn chế việc đưa vào lưu thông, giao dịch loại mệnh giá lớn, trong đó có tờ 500.000 đồng.

Từng loại mệnh giá được yêu thích sử dụng theo cách khác nhau
Từng loại mệnh giá được yêu thích sử dụng theo cách khác nhau

Nhóm nghiên cứu thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, chưa có một con số thống kê cuối cùng, nhưng phần lớn người dân thuộc diện này, một khi đã có tiền để dành thường để “nằm chết” khá lâu. Có những gia đình gặp sự cố nhà cửa do thiên tai bão lũ, khi kiểm đếm thấy cả những seri tiền cách ngày nay 5 năm, thậm chí còn lâu hơn. Do không hiểu biết về khái niệm lạm phát, mất giá của đồng tiền, nên sau một thời gian có một số gia đình ngẫu nhiên vượt qua được sự “mất giá tạm thời” của lạm phát cao mấy năm trước. Cách đây 5 năm, nếu 10 triệu đồng mới mua được 1 con trâu trưởng thành thì nay, cũng với số tiền đó họ có thể mua được hơn thế.

Tờ tiền bẩn nhất ở khu vực nào?

Ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nhiều nước đã có tổng kết và chỉ ra, sau một thời gian lưu thông tiêu dùng đồng tiền cũ đi, theo đó, lượng vi khuẩn và các chất bẩn, độc hại bám vào ngày một nhiều. Ở mỗi nước có những tiêu chí đánh giá tiền bẩn, quy định thời gian lưu thông khác nhau để thu hồi tiêu hủy.

Nhìn chung “tuổi thọ” của đồng tiền ở các nước phát triển thường cao hơn các nước đang phát triển. Một phần do ý thức của người dân biết giữ gìn đồng tiền trong quá trình lưu thông, như không bẻ gập, vò nhầu; thường để tiền trong loại ví có kích thước lớn để luôn giữ phẳng. Mặt khác, điều kiện khí hậu khô, lạnh gần như quanh năm cũng là điều kiện góp phần làm tăng tuổi thọ của đồng tiền và ít nhiễn bẩn hơn.

Ở Việt Nam, tuổi thọ của đồng tiền vào loại thấp, nhưng điều đáng nói hơn là rất nhanh bị nhiễm bẩn. Do ý thức của người dân trong việc bảo quản tiền còn hạn chế, nên số lượng tiền cũ, nát, bẩn thường chiếm tỷ lệ cao, nhất là đối với tiền có mệnh giá nhỏ.

Khi chuyển đổi tiền cotton sang polymer, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tính toán đến một vài yếu tố khí hậu, môi sinh đặc thù nóng, ẩm của châu Á và thói quen tiêu dùng của người Việt Nam, nhưng cũng chỉ hạn chế phần nào việc đồng tiền bị nhiễm bẩn. Gần đây, một phát hiện cũng cho thấy, đồng tiền dễ nhiễm bẩn không chỉ bởi giấy nền in tiền, mà còn do chính chất lượng mực in. Đặc biệt, tác nhân làm đồng tiền nhanh mờ, mất nét, xấu… chính là vi khuẩn, thủ phạm phân hủy lớp mực in, làm hỏng, đồng thời, tạo ra mầm bệnh.

Từ các nguyên nhân nhiễm bẩn nêu trên, môi trường tạo ra tiền bẩn nhiều nhất chính là khu vực chợ truyền thống, đặc biệt là nơi bán thực phẩm và rau quả sống, chưa qua chế biến…

Tờ tiền mệnh giá 200.000 được ưa dùng nhất

Điều tra bước đầu của nhóm nghiên cứu đối với cư dân ở thành thị cho thấy, số người thích tờ tiền 200.000 đồng chiếm tỷ lệ cao. Nó không chỉ là mệnh giá tương hợp với số đông mức sống, được coi là thuận tiện nhất trong thanh toán, mà còn bền, đẹp.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tại Việt Nam “văn hóa tiền mặt” còn khá phổ biến. Thanh toán bằng tiền mặt vẫn chiếm trên 12% tổng phương tiện thanh toán.

Nguồn: VnExpress

Sản phẩm và thị trường: 2 câu hỏi đánh giá mức độ phù hợp

Đánh giá mức độ phù hợp sản phẩm và thị trường

Bất cứ ai trong làng công nghệ cũng hiểu rằng một sản phẩm thành công khi và chỉ khi nó phù hợp với thị trường, với người dùng. Nói cách khác, sản phẩm đó phải đạt điểm hòa hợp về thị trường (product market fit -PMF ). Tuy vậy, phương án duy nhất để thực sự kiểm chứng sản phẩm của mình đã phù hợp chưa là triển khai thực tế và quan sát tốc độ tăng trưởng của người dùng. Tuy vậy, có hai câu hỏi quan trọng mà bạn cần đặt ra khi cân bằng giữa sản phẩm/ thị trường, đặc biệt là khi công ty của bạn hoạt động trong lĩnh vực B2C:

1.Sản phẩm có thuyết phục với phụ nữ không?

Silicon Valley không thiếu những gã nghiện công nghệ sẵn sàng thử bất kỳ cái mới được tung ra thị trường, dù họ có cần nó hay không. Tuy nhiên, như  nhiều thống kê đã chỉ ra, trong thế giới tiêu dùng trên Internet, phụ nữ là tập khách hàng quan trọng nhất. Do vậy, có một cách tuyệt vời để kiểm tra xem liệu sản phẩm của bạn là một ý tưởng thú vị hay một đống rác, đó là hãy để cho chị/em gái, họ hàng của bạn, những người “mù” công nghệ dùng thử. Nếu họ trả lời “Ồ, cái này hay đấy”, bạn đang đi đúng đường. Ngược lại, nếu bạn giới thiệu bất cứ cái gì nghe như “giúp tổng hợp kết quả từ nhiều công cụ tìm kiếm khác nhau”, khả năng lớn là họ sẽ nói:”Tại sao em phải dùng cái này? Em thấy Google là đủ rồi”, và đây chính là cái bạn cần bởi nó giúp đánh giá tính khả thi của sản phẩm/ dịch vụ của bạn. Nếu bạn hỏi 1 gã lập trình viên, bạn sẽ nhận được câu trả lời:”Tuyệt, có lẽ nó sẽ giúp tôi nâng cao chất lượng tìm kiếm của mình”

2.Sản phẩm có vượt trội hoàn toàn không?

Một điểm khác biệt quan trọng giữa thị trường B2B và B2C là bạn cần thuyết phục hàng triệu người dùng khác nhau thay vì chỉ một vài người trong các công ty. Có nghĩa là về cơ bản, bạn sẽ không có cơ hội mặt đối mặt với khách hàng để chỉ cho họ thấy chính xác sản phẩm của bạn sẽ đem lại những gì. Thay vào đó, nó phải có khả năng bán chính nó. Các sản phẩm B2B có thể thành công với chỉ 1% lợi ích vượt trội hơn giải pháp thứ 2 – với quy mô của các tập đoàn, 1% là một con số khổng lồ. Nhưng trong thị trường đại chúng, sản phẩm của bạn cần có điểm gì đó đáng để người ta cân nhắc việc thử cái mới. Đây là lí do các ứng dụng theo xu hướng “liên tục cải tiến” thường gặp khó khăn lớn khi xây dựng người dùng, và cũng giải thích tại sao các công ty B2C vĩ đại luôn đại diễn cho một bước nhảy vọt so với tất cả đối thủ cạnh tranh. Ví dụ:

Amazon – thay thế cho việc đi bộ tới cửa hàng sách

Google – những search engine hiện tại hầu như chẳng bao giờ tìm được cái gì

eBay – thay cho việc trực tiếp tham gia đấu giá hoặc các đợt sales

Paypal – phổ biến rộng rãi đầu tiên trên eBay, nơi mọi người từng phải chờ tới hơn 1 tuần để thanh toán

Youtube – các dịch vụ chia sẻ file tương tự quá chậm (…buffering) và yêu cầu cài đặt một đống codec

Facebook – các MXH khác đều vô dụng và không gắn kết.

Đánh giá mức độ phù hợp sản phẩm và thị trường
Đánh giá mức độ phù hợp sản phẩm và thị trường giúp product owner có thể lường trước được mức độ thành công của sản phẩm

Những ví dụ trên chỉ ra 2 hướng các sản phẩm có thể đạt product market fit:

1.Tạo ra một thị trường hoàn toàn mới mà trong đó, các sản phẩm cạnh tranh khác gần như không thể phản ứng hoặc cạnh tranh với bạn. Không dễ dàng để nhận ra thị trường/ cơ hội cỡ này, nhưng đôi lúc bạn sẽ sớm nhận ra nếu có một bản mẫu sản phẩm và chắc chắn rằng nó hấp dẫn với chị em phụ nữ.

2.Tạo ra sự khác biệt hoàn toàn về chất lượng và vượt trội về tính năng so với các đối thủ cạnh tranh. Điều này không khó để nhận ra, nhưng yêu cầu bạn cần có năng lực sáng tạo khổng lồ và hành động đủ nhanh để có thể chiếm lĩnh thị trường trước khi bị bắt chước

Ưu điểm của phương án đầu tiên là trong đa số trường hợp, đối thủ cạnh tranh sẽ đánh giá thấp những gì bạn đang làm (và cũng ít có khả năng copy bạn), rằng bạn đang thâm nhập một thị trường bèo bọt.

Bạn nên nhớ câu nói của Marc Andreessen trên blog riêng của ông: ”Sát thủ số 1 đối với các startup là không có thị trường”. Đổi lại, mọi người thường chậm trễ trong việc nhận ra một thị trường hoàn toàn mới (mà bạn sẽ tạo ra) hơn nhiều so với việc nhận ra một sản phẩm mới trên thị trường cũ. Bạn sẽ có thời gian để phát triển và chiếm lĩnh thị trường.

Với phương án 2, một sản phẩm đưa ra một sự cải tiến ấn tượng có thể sẽ thu hút được những thành công ban đầu nhanh chóng, nhưng nó cũng mời gọi những đối thủ cạnh tranh. Do vậy, khả năng, tốc độ thực thi là tối quan trọng.

Cuối cùng, nếu bạn vẫn không chắc chắn về sản phẩm của mình liệu đã hòa hợp với thị trường chưa thì: “If you have to ask if you have found it, you haven’t” – Eric Ries

Nguồn: Westart.vn

Business Analyst: Người làm thông dịch viên

Business Analyst: Người làm thông dịch viên

Bài viết trên PC World Việt Nam, ấn phẩm B, chuyên đề giải pháp và ứng dụng công nghệ thông tin, số tháng 4/2011, trang 60.

Chuyên viên phân tích nghiệp vụ (chuyên viên phân tích thiết kế hệ thống, Business Analyst, BA) là cầu nối giữa bộ phận CNTT và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Họ phân tích và thiết kế mô hình kinh doanh, quản lý của các tổ chức doanh nghiệp. Do đó, họ có vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và đối tác.


Xuất phát từ developer

Anh Nguyễn Hoàng Minh, Chuyên viên BA Công ty DICentral chuyên về mảng phát triển tính năng của Microsoft SharePoint 2010 cho thị trường Mỹ cho biết, với chuyên ngành CNTT, trong thời gian sinh viên, Minh đã thực hiện khá nhiều dự án làm thêm từ trang web RentACoder.com. Nhờ vậy, đã có kinh nghiệm làm việc với các dự án cho khách hàng nước ngoài. Khách hàng nước ngoài thì ngoài việc viết mã chương trình, họ còn yêu cầu về việc thực hiện tài liệu thiết kế rõ ràng. Trong khoảng thời gian này, Minh cũng đã bắt đầu làm quen lấy yêu cầu và phân tích yêu cầu từ những dự án nhỏ và chi phí không cao.

Sau đó, Minh được nhận vào một công ty phần mềm của Đức chuyên gia công cho thị trường châu Âu. Tại đây, Minh được công ty cho cơ hội thử thách ở vị trí trưởng nhóm (Team Leader) nhờ vào khả năng nắm bắt, khả năng giao tiếp, tiếp cận vấn đề tổng thể và làm việc trực tiếp với bên đối tác ở Đức. Kinh nghiệm qua 3 dự án khá lớn nên Minh có cơ hội trau dồi khả năng lấy yêu cầu, tiếp xúc khách hàng và khả năng phân tích yêu cầu. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, công việc vẫn chưa phải hoàn toàn là một BA thật sự.

“Tôi thật sự thích cái nghề này và đã định hướng đi theo nghề này, học thêm kỹ năng cũng như kiến thức chuyên môn. Khoảng 2 năm sau đó, tôi chính thức bước hẳn vào làm ở vị trí BA và tư vấn giải pháp phần mềm trên công nghệ .NET của Microsoft cho đến bây giờ”, anh Minh chia sẻ.

Chị Tô Việt Anh, Chuyên viên phân tích hệ thống Công ty phần mềm FPT cho biết, sau nhiều năm học hỏi, tích lũy kinh nghiệm từ lập trình viên (Developer), tôi chuyển dần sang mảng cơ sở dữ liệu (CSDL, Database), chịu trách nhiệm phân tích nhu cầu của hệ thống và thiết kế database cho phù hợp. BA phải tìm hiểu hệ thống thật kỹ lưỡng các quy trình trong doanh nghiệp hoạt động như thế nào, hệ thống phục vụ nhu cầu gì của người dùng, xác định thật rõ các yêu cầu người dùng. Từ đó, họ phân tích để thiết kế được CSDL cho hệ thống đó hợp lý hoặc đề xuất cải tiến quy trình. Sản phẩm sau khi thiết kế hệ thống sẽ được chuyển cho bộ phận thiết kế giao diện và lập trình cho hệ thống này.

Business Analyst: Người làm thông dịch viên
Business Analyst: Người làm thông dịch viên

Trưởng thành từ dự án

Đa số sinh viên thường tập trung vào các môn có thể ứng dụng được ngay như lập trình hay cơ sở dữ liệu. Có thể nói, nhiều môn học ngành CNTT như công nghệ phần mềm, quản lý công nghiệp… tưởng chừng như khô khan, quá lý thuyết nhưng BA rất cần có những kiến thức ở những môn này.

Theo anh Minh, BA được ví như những người làm “thông dịch viên” giữa người làm nghiệp vụ và người lập trình thông qua một trong các  ngôn ngữ thể hiện là UML (Unified Modeling Language). Đây là các tài liệu theo chuẩn trong công nghệ phần mềm mà ở đó cả người làm nghiệp vụ và người lập trình đều đọc hiểu.

Nguyễn Hoàng Minh, Chuyên viên BA Công ty DICentral
Nguyễn Hoàng Minh, Chuyên viên BA Công ty DICentral

Nghề BA là một nghề đặc trưng cần rất nhiều kỹ năng mềm như kỹ năng tổ chức, kỹ năng viết tài liệu, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lấy yêu cầu, kỹ năng phân tích, tầm nhìn xa và kỹ năng giải quyết vấn đề bên cạnh kiến thức chuyên môn cần thiết. Ngoài ra, BA cũng là một nghề chịu áp lực cao và đôi khi làm việc đêm rất nhiều khi làm việc với khách hàng trái múi giờ, vì vậy, Minh nghĩ nghề này phù hợp với các bạn nam năng động, có duyên ăn nói và linh động thời gian, có thể đi công tác mà không phải gặp nhiều vấn đề. Tuy nhiên, nếu các bạn nữ có tính cách và muốn thử thách thì cũng đáng để thử một nghề đầy thử thách và cơ hội.
Anh Nguyễn Hoàng Minh, Chuyên viên BA Công ty DICentral

Ngoài những kiến thức nền tảng về CNTT, để trở thành một BA, họ phải có thời gian trải qua nhiều dự án với các công việc như lập trình, giải quyết các vấn đề khó khăn của hệ thống và tiếp cận cũng như thiết kế các giải pháp phần mềm phù hợp. Theo anh Minh, nếu không hiểu, không biết những vấn đề khó khăn hoặc không có kinh nghiệm trong thiết kế kiến trúc phần mềm thì khi gặp khách hàng  rất dễ bị “hố” (khó thuyết phục và không làm khách hàng tin tưởng) khi đưa quy trình hay giải pháp mà bên kỹ thuật không thể làm được.

“Bản thân tôi đã trải nghiệm qua nhiều dự án lớn nhỏ khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau (dự án bất động sản, dự án phần mềm, dự án về CRM hay CMS…). Càng nhiều càng tốt vì khi đó BA càng có nhiều kinh nghiệm, kiến thức về nghiệp vụ và khả năng “nhìn thấy” được những vấn đề “tiềm ẩn”. Nếu không phân tích kỹ thì dự án có khả năng phải bỏ (failed) hoặc làm lại dự án vào phút chót (tốn nhiều thời gian, công sức và cũng có thể dự án đi đến thất bại). Đặc biệt, những dự án đặc thù như dự án về tài chính, kinh doanh, thuế… thì người BA cần phải tìm hiểu rất kỹ các vấn đề liên quan”, anh Minh nói.

Vì những yêu cầu khắt khe trên, người BA muốn làm tốt công việc của mình thì nhất thiết phải có kiến thức nền tốt về CNTT, kiến thức nghiệp vụ và khả năng nhìn xa về mặt kỹ thuật. Thực tế, họ có thể học thêm chuyên đề, bổ sung kiến thức liên quan khác trong ngành kinh tế, chính, kế toán… Điều này thường có trong các dự án triển khai sản phẩm ERP. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có một điều kiện bắt buộc, tiêu chuẩn nào cho một BA. Đôi khi, người làm BA cũng xuất thân từ ngành kinh tế nhưng có kiến thức về mảng công nghệ phần mềm vẫn có thể làm việc tốt.

Khách hàng và nhà thiết kế

Công việc đặc trưng của một người làm BA thường sẽ tập trung vào khởi đầu và kết thúc dự án (giao sản phẩm cho khách hàng). Khi bắt đầu 1 dự án, người làm BA cần phải tiếp xúc khách hàng, lấy và nắm yêu cầu khách hàng, làm rõ yêu cầu của khách hàng sau đó phân tích yêu cầu của khách hàng. Xem thử những yêu cầu đó có thể “tin học hóa” được hay không. Vì rất nhiều khách hàng không có nhiều kiến thức chuyên môn về CNTT hoặc đôi khi yêu cầu hoặc mong muốn của khách hàng thâm chí chưa rõ rang. Lúc này, vai trò của người BA lại trở thành người tư vấn viên để tư vấn quy trình cho họ.

Chị Anh cho biết, khi có dự án mới, chị thường đọc hiểu tài liệu khách hàng cung cấp, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng. Đối với những vấn đề chưa hiểu, chưa rõ, chị liên hệ với khách hàng để làm rõ thêm. Theo chị, có thể dùng nhiều cách như tổ chức hội thảo – workshop để thảo luận, nhờ BA hay trưởng dự án (PM) đến tận nơi tìm hiểu, làm rõ thêm yêu cầu, gửi bảng câu hỏi (Q&A) để khách hàng trả lời… Sau đó, BA viết lại yêu cầu khách hàng dưới dạng tài liệu đặc tả yêu cầu hệ thống (System Requirement Specification, SRS), dưới dạng sơ đồ người dùng (Use Case), yêu cầu nghiệp vụ (Business requirements), yêu cầu chức năng (Functional Requirements)  và các yêu cầu khác. Trong đó, đa phần là sử dụng ngôn ngữ UML. Đây cũng chính là công việc quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng tới toàn bộ phần sau của dự án như thời gian hiện thực, khả năng hiện thực dự án, độ khó và tính chi phí cho khách hàng.

Sau khi có SRS, BA sẽ gửi cho khách hàng xác nhận độ chính xác của tài liệu; Trình bày về hệ thống cũng như các tài liệu liên quan cho Developer và kiểm thử viên phần mềm (Tester) thực hiện công việc. Hỗ trợ đội dự án khi lập trình và kiểm thử phần mềm. Sau khi sản phẩm hoàn chỉnh và được tester thông qua, BA phải duyệt lại sản phẩm dưới dạng kịch bản (scenarios) ban đầu theo yêu cầu người dùng cuối. Khi sản phẩm được BA thông qua, thì sẽ được giao cho khách hàng. Trong tất cả những công đoạn trên, bước nào cũng quan trọng và cần sự cẩn thận tuyệt đối vì nếu có bất kỳ sai sót nào của BA cũng có thể dẫn đến việc hiểu sai yêu cầu của khách hàng. Và nghiêm trọng nhất, dẫn đến việc khách hàng không chấp nhận sản phẩm do đội dự án tạo ra.

Anh Minh chia sẻ, một công việc khác nữa của một người làm BA là theo dõi trong quá trình thực hiện dự án để đảm bảo các bước thực hiện dự án đi theo đúng hướng và phù hợp với các yêu cầu thông qua các công cụ đặc trưng. Người làm BA đa phần cũng sẽ là người quản lý những yêu cầu thay đổi trong quá trình thực hiện dự án, đánh giá sự ảnh hưởng của yêu cầu thay đổi lên dự án và có dự đoán chính xác về sự điều chỉnh thời gian cũng như sự điều chỉnh nghiệp vụ liên quan. Vào cuối dự án, BA đôi khi lại là người chịu trách nhiệm như một người làm QC hay QA, kiểm tra sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu ban đầu trước khi giao cho khách hàng.

Trong quá trình thực hiện dự án, người làm BA ở phía nội bộ dự án thì BA như là khách hàng, nắm vững các yêu cầu. Vì vậy, họ có thể trả lời các câu hỏi liên quan tới yêu cầu trong quá trình phân tích. Ngược lại, khi gặp khách hàng, BA lại ở vai trò người thiết kế/lập trình cho dự án và phải trả lời được đa số các vấn đề kỹ thuật của dự án, hoặc giải thích những thay đổi trong cấu trúc kỹ thuật của dự án.

Những khó khăn

Theo anh Minh, làm nghề BA có 2 vị trí/vai trò, và mỗi vai trò có cái khó riêng của nó. Khi ở gặp khách hàng, thì nhiều khách hàng sẽ không hiểu vấn đề kỹ thuật. Làm sao để truyền tải được những vấn đề kỹ thuật cho khách hàng hiểu theo suy nghĩ người làm kinh doanh là cả một vấn đề.

Hơn nữa, cái khó lớn nhất khi làm BA đó là khả năng lấy thiếu yêu cầu. Đôi khi chính khách hàng cũng không nghĩ là người ta đã đưa đủ yêu cầu, vì có 1 số trường hợp đặc biệt hoặc lâu lâu mới xuất hiện thì người ta không thể nhớ mà báo cho mình. Điều này rất nguy hiểm và là lý do thất bại của nhiều dự án. Một cái nữa khi làm BA là ở phía nội bộ, có những vấn đề nghiệp vụ ví dụ như kế toán hoặc thuế chẳng hạn, truyền đạt kiến thức quy trình cho những người lập trình vốn không chuyên cũng là cả một vấn đề.

Anh Minh chia sẻ, cách đây vài năm, khi lấy yêu cầu của một công ty làm chuyên về nghiệp vụ cung cấp địa chỉ nhà và dịch vụ bất động sản ở Đức, trong đó có một phần cho phép người ta tính toán giá trị nhà, giá trị vay vốn. Khó khăn là văn phòng này chỉ làm môi giới, chưa bao giờ làm việc này trước đây (công ty bất động sản cung cấp thêm cho khách hàng như một dịch vụ tiện ích) nên đã đưa một công thức tính toán sai. Cũng may, lúc đó tôi đã tìm cách kiểm tra lại công thức và cảm thấy không hợp lý. Ngay sau đó, tôi phải liên hệ với rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng để tìm hiểu và cuối cùng mới có công thức chính xác.

Cũng trong dự án bất động sản này, khách hàng chỉ yêu cầu có 10 trường (field) dữ liệu được chuyển đổi và tính toán. Nhưng sau đó, khi yêu cầu chuyển dữ liệu mẫu qua để phân tích thì mới phát hiện số lượng field cần xử lý nó không cố định và có thể nhiều hơn 10. Vì vậy, tôi và đội dự án phải điều chỉnh kiến trúc sản phẩm, để có thể nhận dữ liệu với số lượng fields từ hệ thống khách hàng là động. Về sau, khách hàng yêu cầu nhận thêm dữ liệu từ một hệ thống khác của một chi nhánh khác. Lúc đó, công ty của tôi đã tiết kiệm rất nhiều thời gian mà không phải phân tích và kiến trúc lại phần mềm do lúc phân tích yêu cầu đã tính toán trước những vấn đề này dù khách hàng không yêu cầu từ đầu, anh Minh chia sẻ.

Có 2 khái niệm không được rõ ràng lắm. Đó là BA (Business Analyst) va SA (System Analyst). Theo lý thuyết, BA là người làm việc trực tiếp với khách hàng, lấy cụ thể của khách hàng và tạo ra những tài liệu yêu cầu người dùng (User Requirement Document). Trong tài liệu này, mọi yêu cầu được mô tả chung chung và bằng ngôn từ của người sử dụng. SA là người phân tích tài liệu do BA tạo ra (nghĩa là phân tích User Requirement) và viết lại thành một tài liệu chi tiết hơn, phân tích sâu hơn những yêu cầu đó và được gọi là tài liệu hệ thống thông tin (System Requirement Document). Khi đó, Developer và Tester có thể dựa trên tài liệu này mà hiện thức hoà lại chương trình. Công việc hiện tại của tôi có khi là BA, có khi là SA và cũng có khi làm đảm nhận cả 2 công việc của BA và SA. Điều này tuỳ thuộc cụ thể từng dự án.
Chị Tô Việt Anh, Chuyên viên phân tích hệ thống Công ty phần mềm FPT.

Điều làm chị Anh nhớ nhất và là một kinh nghiệm không bao giờ quên cho bản thân chị là “sự khác biệt khi làm việc với khách hàng am hiểu về CNTT và người dùng cuối thực thụ”. Với khách hàng am hiểu về CNTT (làm việc với bộ phận CNTT của một công ty nào đó), khách hàng sẽ rất dễ dàng duyệt hay đưa ra một quyết định nào đó về những ràng buộc trong chương trình. Hai bên có thể trao đổi và chọn cách phù hợp nhất. Nhưng khi làm việc với người dùng cuối, BA phải là người tư vấn và đôi khi đóng vai trò quyết định giúp khách hàng. Điều quan trọng nhất là phải bám sát nhu cầu thực sự của khách hàng để đưa ra những tư vấn hợp lý cho cả hai bên. Điều này hầu như dựa vào kinh nghiệm làm việc do bản thân đúc kết được.

Vì quyền lợi khách hàng

Anh Minh chia sẻ, nghề BA hiện vẫn chưa được coi trọng, một phần là đa số các dự án ở Việt Nam đều là dự án không phức tạp. Vì vậy, để tiết kiệm đa số các công ty đều cử các lập trình viên đi để lấy yêu cầu và viết tài liệu khá đơn giản. Phía khách hàng, họ cũng không yêu cầu vì tiết kiệm thêm chi phí. Trong khi ở nước ngoài, các dự án từ 10.000 USD trở lên đều phải có BA. Các dự án lớn ở trong nước thì công ty mới có những người làm BA nhưng đa số là kiêm nhiệm từ lập trình viên.

“Trong khi ở nước ngoài, BA là một người lương khá cao cũng như được đánh giá khá quan trọng trong các dự án. Làm BA có những niềm vui riêng như cơ hội giao tiếp với nhiều khách hàng khác nhau, tìm hiểu nghiệp vụ khác nhau. Chính vì vậy, cũng tôi luyện cho cá nhân tôi thêm nhiều kinh nghiệm và vốn sống hơn. Tuy vậy, thử thách trong nghề BA là không ít. Riêng việc gặp khách hàng và lấy yêu cầu, nếu như phía khách hàng hợp tác thì tốt. Một số trường hợp hay gặp phải là nhân viên nghiệp vụ ở khách hàng không hợp tác hoặc hợp tác nhưng không hợp tác hết mình vì một số lý do gì đó (có thể như ngại tin học hóa vì sợ mất việc hoặc sợ lộ các thông tin tài chính không rõ ràng…). Điều đó làm việc lấy yêu cầu dễ dàng bị lệch hướng”, anh Minh nói.

Trong nghề BA cũng hay gặp phải chuyện “dở khóc dở cười” khi làm việc với các lập trình viên. Đôi khi, tôi phải rất defensive (hình thức bảo vệ ý kiến, chống đối với đội dự án) vì lập trình viên luôn đẩy những vấn đề khó, lỗi hoặc trách nhiệm về 1 người khác. Trong khi đó, khách hàng bỏ tiền ra không thể chấp nhận được những lập luận như vậy. Và BA phải là “khách hàng” của lập trình viên và phải đấu tranh rất nhiều trong chính nội bộ nhóm.

Triển vọng nghề BA

Thực tế, khó khăn hiện nay là sinh viên muốn theo nghề nhưng chưa có trường, lớp nào đào tạo BA. Vì thế, mọi thứ đều phải tự rèn luyện và học hỏi kinh nghiệm từ những thế hệ đi trước, những dự án vừa làm vừa học. Ngoài ra, công việc BA thì hầu như ít được tuyển dụng. Đa phần chỉ những công ty lớn, có quy trình rõ ràng chuyên về phần mềm thì mới tuyển BA.

Theo chị Anh, nói đến tố chất để theo đuổi nghề này, thì điều đầu tiên phải có sự yêu thích, đam mê, nhưng chưa đủ, cần phải có tư duy logic và khả năng nhìn nhận, suy luận vấn đề, khả năng giao tiếp (không những với khách hàng bên ngoài mà còn trong nội bộ nhóm làm việc của bạn). Đó là điều kiện tối thiểu mà BA cần có. Hơn nữa, bạn nhất định phải có kiến thức cơ bản về máy tính (hay nói cách khác, bạn nên học ngành CNTT) và ít nhất 2 năm lập trình.

Theo anh Minh, trong vài năm tới nhu cầu BA sẽ tăng trưởng nhanh chóng. Các doanh nghiệp ngày càng nhận ra tầm quan trọng của CNTT trong kinh doanh, trong quản lý. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ có nhu cầu nhiều hơn trong lĩnh vực tin học hóa các hoạt động của mình. Lúc đó, những người làm BA sẽ thực sự được trọng dụng. Riêng hiện nay, nhu cầu BA chỉ có ở các công ty lớn hoặc các công ty có nhu cầu làm dự án lớn với khách hàng nước ngoài như châu Âu, châu Mỹ, Nhật bản. 

PC World Việt Nam, ấn phẩm B, số tháng 4/2011

./.

Mạng xã hội: luật chơi trong thế giới phẳng!

Mạng xã hội

Cách đây 3 năm, tôi không hề biết Facebook là gì. Tôi chắc nhiều bạn ở Việt Nam cũng thế. Lúc đó, không những chỉ ở Việt Nam, Yahoo 360 gần như chiếm ưu thế tuyệt đối trong cộng đồng mạng xã hội ảo, người người làm blog, người người viết blog. Yahoo 360 mặc dù ở chế độ Beta nhưng cũng chẳng ai nghĩ nó sẽ bị đóng cửa trong một ngày ở tương lai rất gần. Giao diện thân thiện và đơn giảm, dễ sử dụng, tích hợp với Yahoo Messenger và quan trọng là các dịch vụ của Yahoo như Mail và YM được sử dụng gần như độc tôn ở thị trường Việt Nam.

Là dân IT, tôi cũng được cập nhật chút công nghệ về mạng, về tình hình và tin tức trên thế giới cũng như sự phát triển của mạng Internet và các trang web, lần đầu được nghe tới Facebook, nghe tới Twitter, cũng thử “xí” chỗ cho mình 1 tài khoản ở những trang này. Một thời gian sau đó tôi vẫn không thể thấy được những cái mà Facebook và Twitter được quảng cáo đó là tình mở rộng và tính kết nối cao. Đơn giản, tôi chẳng có nhiều kết nối và bạn bè để có thể kết nối, mà đúng hơn là chỉ có lèo tèo một vài người bạn ở nước ngoài có sử dụng, còn lúc đó, mấy ai ở Việt Nam nghe hay biết gì về mạng Xã hội này.

Read more Mạng xã hội: luật chơi trong thế giới phẳng!