71% người dùng internet ở Việt Nam mua hàng trực tuyến

Theo điều tra của Công ty Công nghệ thanh toán toàn cầu VISA, 71% người dùng internet ở Việt Nam mua hàng trực tuyến trong năm 2012 và 90% cho biết họ sẽ mua hàng trực tuyến trong tương lai.

So với tỷ lệ 30% người tham gia khảo sát cho biết từng mua hàng trực tuyến trước đó 1 năm, những con số này cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng về mức độ tham gia thương mại điện tử (TMĐT) của người tiêu dùng trẻ tại các thành phố lớn.

Nếu ước tính giá trị mua hàng trực tuyến mỗi năm của một người tiêu dùng khoảng 30USD, căn cứ vào tỷ lệ người truy cập internet tham gia mua sắm trực tuyến của VISA, doanh số TMĐT B2C (giao dịch kinh doanh trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng thông qua mạng internet) của Việt Nam năm 2012 ước tính đạt 667 triệu USD.

Từ một góc độ khác, theo khảo sát của Cục TMĐT và Công nghệ thông tin (CNTT) với 47 sàn giao dịch TMĐT đã đăng ký với Bộ Công Thương, tổng giá trị giao dịch ước tính được thực hiện qua những website này năm 2012 đạt khoảng 354 triệu USD.

Nếu đưa ra dự đoán khiêm tốn nhất là giá trị giao dịch của 47 sàn này chiếm khoảng 50% thị trường TMĐT B2C, doanh số của cả thị trường TMĐT B2C Việt Nam năm 2012 đạt xấp xỉ 700 triệu USD.

Theo Quyết định 32 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia đến năm 2020, mục tiêu đến hết 2015 sẽ có khoảng 40-45% dân số sử dụng internet, với dân số năm 2015 khoảng 93 triệu người và nếu ước tính giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào năm 2015 tăng thêm 20USD so với năm 2012, tỷ lệ người dùng internet tham gia mua sắm trực tuyến không đổi, ước tính doanh số TMĐT B2C của Việt Nam năm 2015 sẽ đạt trên dưới 1,3 tỷ USD.

Khảo sát của Cục TMĐT và CNTT về tình hình ứng dụng TMĐT của hơn 3.000 DN năm 2012 cho thấy lượng đơn nhận đặt hàng và đặt hàng qua phương tiện điện tử của DN năm 2012 tăng đáng kể so với các năm trước đó.

23% DN trong số hơn 3.000 DN được khảo sát cho biết tổng giá trị đơn đặt hàng họ đã nhận qua phương tiện điện tử năm 2012 chiếm 31-50% tổng doanh thu. 21% DN cho biết đã nhận đặt hàng qua phương tiện điện tử với tổng giá trị chiếm tới hơn 50% tổng doanh thu.

So với năm 2011, năm 2012 tỷ lệ website có chức năng thanh toán trực tuyến đã tăng đáng kể, đạt 17% so với tỷ lệ 7% của năm 2011. Tuy nhiên, một tình trạng tương tự như các năm trước vẫn còn đó là an toàn thông tin và nhận thức xã hội vẫn được DN đánh giá là trở ngại lớn nhất đối với hoạt động ứng dụng TMĐT.

Theo Đầu tư tài chính – Action.vn

Tương lai thị trường bán lẻ Việt Nam: Thương mại điện tử?

Cho dù rớt khỏi top 30 của thế giới theo cách xếp hạng từ hãng tư vấn A.T.Kearney của Mỹ, nhưng ngành bán lẻ vẫn đang thu hút rất nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Do đặc thù cơ sở hạ tầng và giao thông Việt Nam, mô hình siêu thị trung bình từ 2.500 đến 3.000 mét vuông sẽ trở nên phổ biến. Bên cạnh đó, thương mại điện tử sẽ có tương lai tươi sáng nếu khắc phục được điểm yếu kém của mình về chuỗi cung ứng và hậu cần. Điểm thử thách lớn nhất cho bất cứ hệ thống bán lẻ nào hiện nay là sự thiếu hụt nhân sự được đào tạo chuyên nghiệp. Sau đây là những con số về thị trường bán lẻ “khổng lồ” của Vệt Nam

Thị trường bán lẻ VN 2012 - Nguồn: nhuongquyenvietnam.com
Thị trường bán lẻ VN 2012 - Nguồn: nhuongquyenthuonghieu.com

Vài điều về vụ Nhóm Mua

Mấy bữa nay có mấy người bạn vẫn hỏi thăm tình hình công ty và cũng hỏi ý kiến cá nhân  khi có thông tin của Nhóm Mua đang gặp vấn đề. Chưa có cơ hội để nói vì chưa biết rõ thật hư cũng như chưa có nhiều thời gian để bàn luận tới vụ này.

Mặc dù ngày mai là Tom Trần (sáng lập Nhóm Mua) sẽ thực hiện buổi họp báo, nhưng bản thân cá nhân vẫn nghi ngờ liệu Tom có được ung dung tổ chức buổi họp báo hay không. Mặc dù chỉ là đấu đá nội bộ, tuy nhiên, sự việc Nhóm mua được báo chí và giới truyền thông quan tâm vì sự vụ này nó đã đưa cho tất cả những người liên quan, từ khách hàng, doanh nghiệp, đối tác, nhà đầu tư và chính cả những đối thủ những câu hỏi và cần phải chỉnh đốn lại suy nghĩ.

1. Vụ lùm xùm này có thể nói đã làm ảnh hưởng xấu đến ngành Groupon nói riêng và Thương mại điện tử Việt Nam nói chung. Và tất nhiên, những ảnh hưởng này lên các công ty hoạt động trong lãnh vực này là hoàn toàn có. Nội bộ công ty mâu thuẫn, dẫn đến việc không thể thanh toán cho đối tác, mặc dù sau hơn 1 tuần sau sự cố, nhiều đối tác vẫn chưa thể nhận được tiền được, đơn giản là vì công ty không còn con dấu để có thể thực hiện thanh toán. Khách hàng tỏ ra lo ngại với các công ty Thương mại điện tử, đến nỗi việc lo ngại này lên tới sóng Thời sự của VTV lúc 19.

Có vẻ, ngành thương mại điện tử Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình bỗng dưng bị sao quả tạ từ mb24 tới nhommua và bỗng nhiên khách hàng trở nên mất lòng tin, hoặc chí ít, nói tới các website TMĐT cứ như là các công ty lừa đảo khách hàng.

2. NM bị ngưng hoạt động, liệu các đối thủ khác có nên mừng? Chắc chắn là không. Sau sự cố này, nhiều đối tác chắc chắn sẽ phải dè chừng và hoàn hồn lại với các nhà đối tác này. Tất nhiên, lý do để phát sinh vấn đề có nhiều nhưng đối tác đâu có thông tin nội bộ, nên việc lo ngại là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Với 1 trong 3 ông lớn nhất thị trường tự nhiên bị ngưng, đối tác quay lưng, khách hàng e dè, liệu các đối thủ có nên mừng?

3. Nhà đầu tư lớn: con dao 2 lưỡi với Start-up. Chưa rõ thực hư câu chuyện bên trong là ai đúng và ai sai, tuy nhiên, chắc hẳn giờ đây giới Start-up đang đặt ra nhiều câu hỏi với cách đầu tư của IDG: IDG đầu tư để “tút” lại “đứa con” cho thật đẹp rồi đem bán hoặc chiếm luôn hay là đầu tư để 2 bên cùng có lợi?

Có bài báo trên Action.vn đã đưa ra 1 giả thuyết rằng, nhà đầu tư thường đầu tư lớn vào các công ty mới, để nắm giữ Hội đồng Quản Trị, sau đó đưa người vào công ty nắm giữ các vị trí tài chính, sau đó cố gắng làm giảm giá trị công ty và với lý do nhà sáng lập điều hành không hiệu quả, Nhà đầu tư tiến hành “mua” công ty với giá rẻ mạt.

Nhắc lại là vẫn chưa biết sự vụ đằng trong như thế nào, tuy nhiên, về cá nhân thấy có vẻ như NM đang rơi vào trong tình thế này.

4. Hình ảnh bộ sậu mới của NM và IDG liệu có còn được nể trọng?

Có thể, trong câu chuyện này, Tom Trần có sai trái trong việc quản lý công ty, tuy nhiên, hình ảnh lợi dụng Tom Trần trong lúc đi du lịch, IDG thực hiện 1 cuộc đảo chính kiểu Thaksin, đẩy toàn bộ nhân viên ra và chiếm quyền điều hành công ty một cách thô bạo và bạo lực là một vết nhơ xấu của IDG và chính của Kyle Phạm. Với những hình ảnh phản cảm đó, chắc chắn rằng, nhiều con người trong giới kinh doanh, thậm chí cả những người được xem là đối thủ cũng sẽ đứng về phía Tom Trần để ủng hộ, và ác cảm sẽ đẩy về IDG.

Chưa kể, việc lợi dụng mối quan hệ với Công An để lập lờ thông cáo báo chí rằng Bộ công an đang điều tra Tom Trần khiến sự việc càng trở nên hợm hĩnh với 1 tên tuổi lớn của IDG.

5. Nhà đầu tư và Người sáng lập: ai sẽ làm “đứa con tinh thần” trở nên tốt hơn?

Đây là một câu hỏi rất khó trả lời. Nhà đầu tư thì có kinh nghiệm về đánh bóng và tài chính để làm nó hiệu quả đồng vốn, Người sáng lập thì muốn đứa con mình hoạt động tốt nhất.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa 2 vị trí này: sự đam mê.

Nhà đầu tư quan tâm tới tiền và thời gian thoái vốn (hoặc thâu tóm lại công ty).

Người sáng lập quan tâm sự phát triển của công ty, đổ sự đam mê vào nó.

Tất nhiên, khi đầu tư, nhà đầu tư sẽ dần dần chiếm quyền kiểm soát công ty, ở một mức độ nào đó khiến cho nhà sáng lập mất dần kiểm soát, và lúc đó, công ty sẽ chạy theo lợi nhuận chứ không còn chạy theo mục tiêu cao cả ban đầu.

Không thể phủ định nguồn vốn mà nhà đầu tư đầu tư vào công ty cho 1 start-up là cực kỳ quan trọng, tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào vốn đầu tư và nghĩ rằng, nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư cho mình để phát triển con cưng của mình thì…mơ đi.

Vẫn mong rằng vụ này sẽ được giải quyết theo hướng có lợi cho nhà sáng lập. Theo dõi thêm vậy

Sản phẩm và thị trường: 2 câu hỏi đánh giá mức độ phù hợp

Đánh giá mức độ phù hợp sản phẩm và thị trường

Bất cứ ai trong làng công nghệ cũng hiểu rằng một sản phẩm thành công khi và chỉ khi nó phù hợp với thị trường, với người dùng. Nói cách khác, sản phẩm đó phải đạt điểm hòa hợp về thị trường (product market fit -PMF ). Tuy vậy, phương án duy nhất để thực sự kiểm chứng sản phẩm của mình đã phù hợp chưa là triển khai thực tế và quan sát tốc độ tăng trưởng của người dùng. Tuy vậy, có hai câu hỏi quan trọng mà bạn cần đặt ra khi cân bằng giữa sản phẩm/ thị trường, đặc biệt là khi công ty của bạn hoạt động trong lĩnh vực B2C:

1.Sản phẩm có thuyết phục với phụ nữ không?

Silicon Valley không thiếu những gã nghiện công nghệ sẵn sàng thử bất kỳ cái mới được tung ra thị trường, dù họ có cần nó hay không. Tuy nhiên, như  nhiều thống kê đã chỉ ra, trong thế giới tiêu dùng trên Internet, phụ nữ là tập khách hàng quan trọng nhất. Do vậy, có một cách tuyệt vời để kiểm tra xem liệu sản phẩm của bạn là một ý tưởng thú vị hay một đống rác, đó là hãy để cho chị/em gái, họ hàng của bạn, những người “mù” công nghệ dùng thử. Nếu họ trả lời “Ồ, cái này hay đấy”, bạn đang đi đúng đường. Ngược lại, nếu bạn giới thiệu bất cứ cái gì nghe như “giúp tổng hợp kết quả từ nhiều công cụ tìm kiếm khác nhau”, khả năng lớn là họ sẽ nói:”Tại sao em phải dùng cái này? Em thấy Google là đủ rồi”, và đây chính là cái bạn cần bởi nó giúp đánh giá tính khả thi của sản phẩm/ dịch vụ của bạn. Nếu bạn hỏi 1 gã lập trình viên, bạn sẽ nhận được câu trả lời:”Tuyệt, có lẽ nó sẽ giúp tôi nâng cao chất lượng tìm kiếm của mình”

2.Sản phẩm có vượt trội hoàn toàn không?

Một điểm khác biệt quan trọng giữa thị trường B2B và B2C là bạn cần thuyết phục hàng triệu người dùng khác nhau thay vì chỉ một vài người trong các công ty. Có nghĩa là về cơ bản, bạn sẽ không có cơ hội mặt đối mặt với khách hàng để chỉ cho họ thấy chính xác sản phẩm của bạn sẽ đem lại những gì. Thay vào đó, nó phải có khả năng bán chính nó. Các sản phẩm B2B có thể thành công với chỉ 1% lợi ích vượt trội hơn giải pháp thứ 2 – với quy mô của các tập đoàn, 1% là một con số khổng lồ. Nhưng trong thị trường đại chúng, sản phẩm của bạn cần có điểm gì đó đáng để người ta cân nhắc việc thử cái mới. Đây là lí do các ứng dụng theo xu hướng “liên tục cải tiến” thường gặp khó khăn lớn khi xây dựng người dùng, và cũng giải thích tại sao các công ty B2C vĩ đại luôn đại diễn cho một bước nhảy vọt so với tất cả đối thủ cạnh tranh. Ví dụ:

Amazon – thay thế cho việc đi bộ tới cửa hàng sách

Google – những search engine hiện tại hầu như chẳng bao giờ tìm được cái gì

eBay – thay cho việc trực tiếp tham gia đấu giá hoặc các đợt sales

Paypal – phổ biến rộng rãi đầu tiên trên eBay, nơi mọi người từng phải chờ tới hơn 1 tuần để thanh toán

Youtube – các dịch vụ chia sẻ file tương tự quá chậm (…buffering) và yêu cầu cài đặt một đống codec

Facebook – các MXH khác đều vô dụng và không gắn kết.

Đánh giá mức độ phù hợp sản phẩm và thị trường
Đánh giá mức độ phù hợp sản phẩm và thị trường giúp product owner có thể lường trước được mức độ thành công của sản phẩm

Những ví dụ trên chỉ ra 2 hướng các sản phẩm có thể đạt product market fit:

1.Tạo ra một thị trường hoàn toàn mới mà trong đó, các sản phẩm cạnh tranh khác gần như không thể phản ứng hoặc cạnh tranh với bạn. Không dễ dàng để nhận ra thị trường/ cơ hội cỡ này, nhưng đôi lúc bạn sẽ sớm nhận ra nếu có một bản mẫu sản phẩm và chắc chắn rằng nó hấp dẫn với chị em phụ nữ.

2.Tạo ra sự khác biệt hoàn toàn về chất lượng và vượt trội về tính năng so với các đối thủ cạnh tranh. Điều này không khó để nhận ra, nhưng yêu cầu bạn cần có năng lực sáng tạo khổng lồ và hành động đủ nhanh để có thể chiếm lĩnh thị trường trước khi bị bắt chước

Ưu điểm của phương án đầu tiên là trong đa số trường hợp, đối thủ cạnh tranh sẽ đánh giá thấp những gì bạn đang làm (và cũng ít có khả năng copy bạn), rằng bạn đang thâm nhập một thị trường bèo bọt.

Bạn nên nhớ câu nói của Marc Andreessen trên blog riêng của ông: ”Sát thủ số 1 đối với các startup là không có thị trường”. Đổi lại, mọi người thường chậm trễ trong việc nhận ra một thị trường hoàn toàn mới (mà bạn sẽ tạo ra) hơn nhiều so với việc nhận ra một sản phẩm mới trên thị trường cũ. Bạn sẽ có thời gian để phát triển và chiếm lĩnh thị trường.

Với phương án 2, một sản phẩm đưa ra một sự cải tiến ấn tượng có thể sẽ thu hút được những thành công ban đầu nhanh chóng, nhưng nó cũng mời gọi những đối thủ cạnh tranh. Do vậy, khả năng, tốc độ thực thi là tối quan trọng.

Cuối cùng, nếu bạn vẫn không chắc chắn về sản phẩm của mình liệu đã hòa hợp với thị trường chưa thì: “If you have to ask if you have found it, you haven’t” – Eric Ries

Nguồn: Westart.vn